Thách thức đối với Phòng thử nghiệm dùng chung thiết bị (09/09/2016)

Tiến sĩ Emily Seo là Giám đốc Cơ sở Thiết bị dùng chung (Shared Instrument Facility) thuộc Khoa Hóa học, Đại học British Columbia (UBC). Tiến sĩ Seo nhận bằng tiến sĩ ngành Hóa học hữu cơ ở UBC và sau đó nhận học bổng giao lưu ngắn hạn bậc sau tiến sĩ tại Đại học Edinburgh. Bà cũng làm việc với tư cách Phó Tổng biên tập cho Wiley-VCH tại Đức trước khi trở thành Giám đốc Cơ sở Thiết bị dùng chung.

Câu hỏi: Cơ sở Thiết bị dùng chung có nhiệm vụ gì?

Đáp: Cơ sở Thiết bị dùng chung (SIF) được sử dụng cho cả việc giảng dạy và nghiên cứu của khoa, cũng như phục vụ các khách hàng bên ngoài. SIF là một nền tảng tuyệt vời để tích hợp các lĩnh vực khác nhau của hóa học như phân tích, hóa lý (hóa học vật lý), hữu cơ và vô cơ. Ví dụ, một phòng thí nghiệm vật liệu cho giảng dạy được tạo ra để tích hợp hóa vô cơ với hóa lý. Trước khi SIF được thành lập, các nhánh của hóa học tách nhau khá xa. Các khoa bên ngoài như kỹ thuật, lâm nghiệp, y dược, và nha khoa cũng đã sử dụng cở sở này, cũng như nhiều công ty công nghiệp khác.

Câu hỏi: Tại một thời điểm, có bao nhiêu dự án cùng diễn ra tại SIF?

Đáp: Có rất nhiều dự án diễn ra cùng lúc tại SIF, nhưng chủ yếu đây là nơi để thu thập dữ liệu. Phần lớn việc chuẩn bị mẫu và tổng hợp được thực hiện trong các phòng thử nghiệm nghiên cứu độc lập. Ví dụ, thử nghiệm ban đầu của nguyên liệu đầu vào hay biểu thị đặc tính của mẫu có thể được thực hiện tại SIF một khi sản phẩm đã được tổng hợp và phân lập. Thường thì cơ sở chỉ được sử dụng trong một công đoạn của cả dự án nghiên cứu. Tôi cũng giám sát một vài sinh viên chỉ làm việc tại SIF, nhưng mục tiêu phần lớn là để giảng dạy các em cách thiết lập và thực hiện các dự án cho riêng mình.

Câu hỏi: Có bao nhiêu người sử dụng SIF?

Đáp: Hiện tại, chúng tôi có khoảng 195 sinh viên đại học và 45 nghiên cứu sinh bậc sau tiến sĩ, hàng năm con số này có tăng giảm đôi chút. Khoảng 80 đến 85% trong số họ sử dụng cơ sở dưới một hình thức nào đó. Một khi những người sử dụng của khoa chúng tôi đã được huấn luyện, họ được phép đến và sử dụng cơ sở để nghiên cứu, miễn là không trùng vào giờ hạn chế để giảng dạy. Chúng tôi có một hệ thống đặt lịch trực tuyến để phối hợp việc lập lịch trình sử dụng các thiết bị. Hầu như chúng tôi có một lượng người sử dụng ổn định. Ngoài ra, bất cứ lúc nào chúng tôi cũng có khoảng 10-15 khách hàng bên ngoài.

Câu hỏi: Những thách thức chính liên quan đến thiết bị mà bà đang gặp phải là gì?

Đáp: Thách thức lớn nhất của chúng tôi có lẽ là giữ cho tất cả các thiết bị vận hành liên tục. Hiện nay chúng tôi đang có 18 thiết bị, nên nếu một thiết bị gặp vấn đề có thể làm tốn quỹ thời gian dành cho các thiết bị cần bảo dưỡng và thử nghiệm khác. Quá trình khắc phục sự cố có thể khá tốn thời gian, và trong khi có rất nhiều người đang chờ đợi sử dụng thiết bị, chúng tôi phải chịu áp lực sửa chữa ngay. Tôi thường viết email cho những người sử dụng để báo cho họ biết trạng thái của thiết bị, nhờ đó họ biết được việc sửa chữa sẽ mất bao lâu.

Câu hỏi: Vậy những thách thức về con người thì sao?

Đáp: SIF thường được sử dụng cho việc giảng dạy trong kì học thu/đông và kỳ đông/xuân – từ tháng 9 đến tháng 4 – vì vậy, chúng tôi có khung giờ dành riêng cho giảng dạy trong phòng thử nghiệm. Chúng tôi có các khóa học đang diễn ra, nên cần phải chia thời lượng dành cho các nhà nghiên cứu, nhất là khi có hàng trăm nhà nghiên cứu tham gia. Đôi khi, các nhà nghiên cứu không thể chờ đợi được, đặc biệt nếu họ đang giải quyết một mẫu không ổn định hoặc đang chịu áp lực lớn để hoàn thành dự án. Cũng có những phàn nàn từ những người không muốn chờ giờ giảng dạy kết thúc, vì họ muốn thu thập dữ liệu ngay lập tức. Tuy nhiên, nói chung số lượng các phàn nàn rất nhỏ. Mọi người đều hiểu và nhận thấy được thứ tự ưu tiên của cơ sở. Tương tự, các nhà nghiên cứu của khoa được ưu tiên hơn so với các người dùng bên ngoài.

Câu hỏi: Bà đối phó với các thách thức đó như thế nào?

Đáp: Về các vấn đề của thiết bị, mấu chốt là duy trì việc trao đổi thông tin rõ ràng với những người dùng để họ nắm bắt được thời gian chờ và trạng thái của thiết bị. Về việc đối phó với vấn đề con người, trong buổi đào tạo, chúng tôi nêu ra tất cả các chính sách của SIF trước khi người dùng sử dụng phòng thí nghiệm để họ hiểu rõ các quy định và ưu tiên của phòng thí nghiệm. Ví dụ, nếu họ được chỉ trước những mối nguy và những điều cần tránh thì rất nhiều sự cố có thể được ngăn chặn. Hơn nữa, nếu họ hiểu rằng việc giảng dạy được ưu tiên hơn, các phàn nàn sẽ được giảm bớt. Nếu họ được báo rằng phải thoát ra khỏi các vật dụng hoặc phải điền vào sổ ghi chép từng chi tiết riêng lẻ của thiết bị, v.v., họ phải chịu trách nhiệm với tác nghiệp của mình. Đây chỉ là vấn đề về việc minh bạch mọi thứ ngay từ đầu và có chính sách rõ ràng để người dùng có thể làm theo mà thôi.

Câu hỏi: SIF đã thay đổi những gì trong những năm qua?

Đáp: Cơ sở mở cửa vào năm 2011, và trong một vài năm chỉ có 1 người làm việc ở đây. Tại đây không có kỹ thuật viên và thiết bị. Từ một phòng thử nghiệm trống trải đến một nơi được lắp đặt tất cả những thiết bị này chỉ với một người làm việc tại đây, cũng như việc đào tạo hàng trăm nhà nghiên cứu, là một thách thức lớn. Hiện tại chúng tôi đã có một kỹ thuật viên, việc này đã giúp cải thiện vận hành hàng ngày của phòng thử nghiệm. Giám đốc phòng thử nghiệm có thể tập trung giúp đỡ các người dùng với các vấn đề về kĩ thuật hoặc đưa ra các lời khuyên về kĩ thuật và phân tích dữ liệu. Trong khi đó, kĩ thuật viên có thể giúp duy trì chức năng hoạt động hàng ngày của phòng thí nghiệm như thay thế các xi-lanh ga và vật dụng, hay xử lý hóa chất và chất thải. Chúng tôi cùng làm việc để tối đa hóa hiệu quả vận hành của cơ sở, việc này đã tạo điều kiện tốt hơn cho tất cả nhà nghiên cứu và sinh viên sử dụng phòng thử nghiệm. Chúng tôi cũng đã thực hiện thuyết trình minh họa phòng thử nghiệm cho một vài khóa giảng dạy và mở tour tham quan cơ sở để đưa thiết bị đến với những người dùng tiềm năng.

Qua nhiều năm, chúng tôi cũng đã thiết lập mối quan hệ vững chắc với các nhà sản xuất thiết bị. Mối liên kết này rất quan trọng vì chúng tôi có thể liên hệ với công ty hoặc kĩ sư chuyên trách khi chúng tôi gặp sự cố và cần được hỗ trợ ngay lập tức, việc này đã giúp ích cho việc bảo trì các máy móc thiết bị.

Câu hỏi: Kế hoạch tương lai cho cơ sở là gì?

Đáp: Chúng tôi đã đề nghị một khoản trợ cấp lắp đặt để mua một máy phân tích nhiệt trọng lượng mới (TGA) kết hợp với một nhiệt lượng kế quét độ khác biệt (DSC). Do thiết bị này được nhiều nhà nghiên cứu yêu cầu, việc lắp đặt đã được rất nhiều giáo sư trong khoa chúng tôi ủng hộ. Nếu chúng tôi được trợ cấp vốn, một máy TGA/DSC sẽ được mua mới. Một khoản trợ cấp đã được cấp cho một máy TGA/DSC với một máy chuyển đổi hồng ngoại Fourier (FTIR) để thực hiện việc đo đạc khí ga phát triển.

Câu hỏi: Bà muốn đưa ra lời khuyên quan trọng nào cho những chuyên gia phòng thử nghiệm mà chưa từng sử dụng một cơ sở thiết bị dùng chung, nhưng đang tìm hiểu về vấn đề này?

Đáp: Một điểm hay của một cơ sở dùng chung đó là người dùng được tiếp cận nhiều thiết bị trong cùng một căn phòng. Nếu họ muốn thực hiện nhiều phân tích trên một mẫu, họ có thể thực hiện nhiều phép đo sử dụng các thiết bị khác nhau trong cùng một phòng thí nghiệm, thường là trong cùng một khoảng thời gian nếu không có ai khác đang chờ đợi. Đối với những ai đang tìm hiểu cách sử dụng một cơ sở thiết bị dùng chung, việc nói chuyện với giám đốc phòng thử nghiệm chắc chắn rất cần thiết để có thể biết được họ đang cung cấp những dịch vụ nào. Ngoài ra, nếu một người dùng không được tiếp cận với một thiết bị cụ thể tại phòng ban của họ, họ có thể kiểm tra xem thiết bị này có tại cơ sở thiết bị dùng chung hay không. Theo đó có thể thấy SIF là một khu vực phòng thí nghiệm rất hữu dụng.

Câu hỏi: Bà có muốn bổ sung thêm điều gì không?

Đáp: Cơ sở Thiết bị dùng chung là một địa điểm tuyệt vời để chia sẻ ý tưởng vì có nhiều cơ hội để trò chuyện với các nhà nghiên cứu nằm ngoài lĩnh vực của bạn. Ví dụ, tòa nhà khoa hóa học của chúng tôi có 5 khu tách biệt với các nhánh khác nhau của hóa học, nên các sinh viên của một phòng thử nghiệm phân tích có thể không thường xuyên có cơ hội thảo luận ý tưởng nghiên cứu với một sinh viên từ phòng thử nghiệm hữu cơ. SIF ở trung tâm và được sử dụng bởi các nhà khoa học trong tất cả các lĩnh vực hóa học cũng như các khoa ngoài, và do đó, cơ hội để mở rộng các mối quan hệ cho các nhà nghiên cứu cũng khả thi hơn. Việc hợp tác thậm chí còn bắt nguồn từ việc chia sẻ ý tưởng.

Theo www.labmanager.com

Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz

TRỤ SỞ HÀ NỘI
Địa chỉ: Tầng 4, tòa nhà 130 Nguyễn Đức Cảnh, Tương Mai, Hoàng Mai, Tp. Hà Nội 
Điện thoại: 024 6683 9670 - Fax: 024 3634 3449
Email: info@vinalab.org.vn

VĂN PHÒNG PHÍA NAM
Địa chỉ:
163 Điện Biên Phủ, phường 15, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0283 514 7352
Fax: 0283 514 7351

Hội các Phòng thử nghiệm Việt Nam có tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Association of Testing Laboratories, viết tắt là VINALAB, là Hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam. Hội thành lập theo quyết định số 25/2003/QĐ-BNV vào ngày 10/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ...

Bản quyền 2014 thuộc về VINALAB. Bảo lưu mọi quyền lợi.
|
|
|
RSS
Chứng nhận
,
Thử nghiệm
,
Giám định
,
Chứng nhận ISO 9001
,
ISO 9001
,
Chứng nhận ISO 22000
,
ISO 22000
,
Chứng nhận ISO 14001
,
ISO 14001
,
Chứng nhận OHSAS 18000
,
Chứng nhận SA 8000
,
Chứng nhận hợp chuẩn
,
Chứng nhận sản phẩm hợp chuẩn
,
Chứng nhận VietGAP
,
Chứng nhận VietGAP chăn nuôi
,
VietGAP chăn nuôi
,
Chứng nhận VietGAP trồng trọt
,
VietGAP trồng trọt
,
Chứng nhận VietGAP thủy sản
,
VietGAP thủy sản
,
Chứng nhận hợp quy
,
Chứng nhận hợp quy thực phẩm
,
Chứng nhận hợp quy phân bón
,
Chứng nhận hợp quy thức ăn chăn nuôi
,
Chứng nhận hợp quy thuốc bảo vệ thực vật
,
Chứng nhận hợp quy phân bón vô cơ
,
Kiểm tra thức ăn chăn nuôi nhập khẩu
,
Giám định
,
Giám định thương mại
,
Kiểm tra hàng hóa nhập khẩu
,
Chứng nhận GLOBALGAP
,
Chứng nhận ASC
,
Chứng nhận ISO 22000
,
ISO 22000
,
Chứng nhận ISO 9001
,
ISO 9001
,
VINACERT
,
Chứng nhận VietGAP chăn nuôi
,
VietGAP chăn nuôi
,
Chứng nhận hợp quy thức ăn chăn nuôi
,
Chứng nhận
,
Chứng nhận hợp quy thực phẩm
,
Chứng nhận hợp quy phân bón
,
Chứng nhận hợp quy thuốc bảo vệ thực vật
,
VietGAP
,
Chứng nhận VietGAP trồng trọt